Truy cập hiện tại

Đang có 34 khách và không thành viên đang online

Tình hình triển khai thực hiện chỉ số năng lực cạnh tranh ở An Giang

(TGAG)- Trong những năm qua, An Giang đã ban hành nhiều cơ chế chính sách, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp nhằm thu hút đầu tư, tạo môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh như: rà soát, sửa đổi chính sách thu hút, ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh; cải cách hành chính, trong đó tập trung rà soát, đơn giản hóa, bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết... Kết quả qua 10 năm thực hiện điều tra, khảo sát và công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (tính từ năm 2006 đến nay), điểm số của An Giang qua từng năm như sau:

CHỈ SỐ

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

SS 2014

Xếp hạng 2014

Cả nước

Khu vực

Gia nhập thị trường

7,64

7,76

7,64

9,06

6,92

9,13

9,00

7,65

8,90

8,68

-0,22

14

5

Tiếp cận đất đai

6,37

6,63

7,33

8,35

7,64

6,25

7,78

6,41

6,91

5,94

-0,97

31

12

Tính minh bạch

6,64

6,93

7,00

6,11

6,34

5,62

6,13

5,73

5,92

6,5

0,58

18

4

Chi phí thời gian

4,57

6,93

4,62

6,49

6,33

7,86

6,75

7,81

7,54

7

-0,54

20

12

CP không chính thức

7,0

6,57

6,65

6,97

6,24

6,76

7,02

6,76

6,16

4,66

-1,5

42

13

Tính năng động

7,59

7,71

7,63

7,21

6,99

6,72

6,42

7,59

5,12

4,47

-0,65

36

12

Hỗ trợ doanh nghiệp

7,06

7,44

7,32

4,01

5,14

5,14

4,91

5,04

5,40

5,67

0,27

28

4

Đào tạo lao động

4,55

4,94

4,90

4,47

5,49

4,01

5,21

4,90

4,75

5,14

0,39

50

8

Thiết chế pháp lý

3,38

5,05

5,44

4,31

4,48

4,84

3,67

5,33

6,13

6,18

0,05

18

9

Cạnh tranh bình đẳng

6,43

6,94

7,32

N/A

N/A

N/A

N/A

7,14

5,01

4,41

-0,6

46

12

PCI

60,45

66,47

61,12

62,47

61,94

62,22

63,42

59,07

58,10

57,61

-0,49

39

10

Xếp hạng từng năm

9

6

9

20

14

19

2

23

37

39

 

 

 

Nhóm điều hành

Tốt

Tốt

Tốt

Tốt

Tốt

Tốt

Tốt

Khá

Khá

Khá

 

 

 


Kết quả trên cho thấy, có 07 năm An Giang là tỉnh có kết quả điều hành tốt, 03 năm đạt kết quả điều hành khá. Ngay từ năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 10/2012/CT-UBND ngày 09/7/2012 về tăng cường các biện pháp cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh An Giang năm 2012 và những năm tiếp theo; đồng thời, xây dựng  Đề án “Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh An Giang giai đoạn 2012-2015 và định hướng đến năm 2020” tại Quyết định số 2072/QĐ-UBND ngày 21/11/2012. Nhờ sự chỉ đạo và điều hành trên, kết quả năm 2012, PCI tỉnh An Giang đạt 63,42 điểm, xếp hạng 02/63 tỉnh, thành phố trong cả nước và đứng thứ 2 khu vực đồng bằng Sông Cửu Long.

Đến năm 2013, chỉ số PCI của An Giang lại giảm cả về thứ hạng và tổng điểm, xếp thứ 23/63 tỉnh, thành (giảm 21 bậc). Trước tình hình trên, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh đã tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 27-CT/TU, ngày 11/07/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 12/08/2014 về Kế hoạch nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đến năm 2020; Quyết định số 2573/QĐ-UBND ngày 13/11/2015 về phân công nhiệm vụ thực hiện Kế hoạch nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tỉnh An Giang giai đoạn 2015-2020.

Tuy nhiên, PCI của tỉnh cả năm 2014 và năm 2015 lại liên tục giảm. Năm 2014 xếp thứ 37/63 tỉnh, thành (tiếp tục giảm 14 bậc) và năm 2015 tiếp tục giảm 02 bậc, đạt 57,61 điểm, đứng thứ 39/63 tỉnh, thành và thuộc nhóm điều hành “khá”.

Qua thống kê trong 03 năm gần đây (từ năm 2013 đến năm 2015), cho thấy:

(1) Có 4 chỉ số giảm liên tục: 
- Chi phí không chính thức, trọng số 10% (cơ quan được phân công chủ trì: Sở Nội vụ): giảm liên tục 3 năm liền (2013-2015): năm 2013 giảm 0,26 điểm, năm 2014 giảm 0,5 điểm, năm 2015 giảm 1,5 điểm.
- Cạnh tranh bình đẳng, trọng số 5% (cơ quan được phân công chủ trì: Sở Kế hoạch và Đầu tư): giảm liên tục 2 năm liền (2014 - 2015): năm 2014 giảm 2,13 điểm, năm 2015 giảm 0,6 điểm (chỉ số này chỉ được bổ sung đánh giá từ năm 2013).
- Chi phí thời gian thực hiện các quy định của Nhà nước, trọng số 5% (Thanh tra tỉnh, Cục thuế tỉnh chịu trách nhiệm thực 02 chỉ tiêu; Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp thực hiện 07 chỉ tiêu): chỉ số này tăng 1,06 điểm trong năm 2013, nhưng giảm liên tục 02 năm 2014-2015: năm 2014 giảm 0,26 điểm, năm 2015 giảm 0,54 điểm.
- Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, trọng số 5% (cơ quan được phân công chủ trì: Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh): trong năm 2013, chỉ số này tăng 1,17 điểm, nhưng giảm liên tục trong 02 năm 2014-2015: năm 2014 giảm 2,47 điểm, năm 2015 giảm 0,65 điểm.

(2) Có 02 chỉ số giảm điểm trong năm 2013, tăng điểm trong năm 2014 và lại giảm điểm trong năm 2015 (không ổn định):
- Chi phí gia nhập thị trường, trọng số 5% (cơ quan được phân công chủ trì: Sở Nội vụ): chỉ số này giảm 1,35 điểm trong năm 2013, tăng 1,25 điểm trong năm 2014 và giảm 0,22 điểm trong năm 2015. Đây là chỉ số có số điểm luôn duy trì ở mức cao, thứ hạng cao so với toàn quốc và khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
- Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, trọng số 5% (cơ quan được phân công chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường): chỉ số này giảm 1,37 điểm trong năm 2013, tăng 0,5 điểm trong năm 2014, giảm 0,97 điểm trong năm 2015.

(3) Có 01 chỉ số giảm liên tục trong 02 năm 2013, 2014, nhưng lại tăng điểm trong năm 2015:
Đào tạo lao động, trọng số 20% (cơ quan được phân công chủ trì: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội): năm 2013 chỉ số này giảm 0,31 điểm, năm 2014 tiếp tục giảm 0,15 điểm, nhưng năm 2015 tăng 0,39 điểm. Tuy nhiên, so với các chỉ số khác trong chỉ số thành phần của tỉnh, chỉ số đào tạo lao động là chỉ số có thứ hạng thấp nhất so với cả nước (50/63 tỉnh, thành).

(4) Có 01 chỉ số giảm điểm trong năm 2013, nhưng tăng điểm liên tục trong năm 2014 và năm 2015: Tính minh bạch và tiếp cận thông tin, trọng số 20% (cơ quan được phân công chủ trì: Sở Tư pháp): năm 2013 chỉ số này giảm 0,4 điểm, năm 2014 tăng 0,19 điểm, năm 2015 tiếp tục tăng 0,58 điểm.

(5) Có 02 chỉ số tăng điểm liên tục trong 03 năm liền (2013, 2014, 2015):
- Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, trọng số 20% (cơ quan được phân công chủ trì: Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư): năm 2013 tăng 0,13 điểm, năm 2014 tăng 0,4 điểm, năm 2015 tăng 0,39 điểm.
- Thiết chế pháp lý, trọng số 5% (cơ quan được phân công chủ trì: Tòa án nhân dân tỉnh): năm 2013 tăng 1,66 điểm, năm 2014 tăng 0,8 điểm, năm 2015 tăng 0,05 điểm.

Từ thực tế nói trên có thể rút ta những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế như sau.
* Về khách quan
- Do việc hướng dẫn từ Trung ương trong công tác điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch còn chậm, chưa kịp thời (như: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh, cấp huyện; quy hoạch ngành; quy hoạch sản phẩm; quy hoạch xây dựng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,…); mặt khác, các quy hoạch vùng chưa đồng bộ và thống nhất, công tác quản lý quy hoạch còn lỏng lẻo.
- Mức độ am hiểu pháp luật, các quy định của nhà nước của cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh còn hạn chế dẫn đến việc thực hiện các quy định về hồ sơ, thủ tục do các cơ quan nhà nước hướng dẫn thường phải thông qua đơn vị tư vấn, làm mất nhiều thời gian, phát sinh chi phí gia nhập thị trường.
- Nhận thức của doanh nghiệp được lấy thông tin về chỉ số PCI chưa phản ánh hết thực chất năng lực cạnh tranh của tỉnh, tính đại diện của doanh nghiệp chưa cao.
- Cơ sở đào tạo nguồn nhân lực để cung cấp cho doanh nghiệp, các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ pháp lý, lao động, việc làm, đăng ký thương hiệu còn nhiều hạn chế, chưa tạo được sự thu hút của doanh nghiệp tham gia vào các chương trình của tỉnh.
- Khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ thông tin của doanh nghiệp trong tỉnh ngày càng được nâng cao, tuy nhiên dung lượng đường truyền thấp, có quá nhiều cổng thông tin thành phần kết nối, độ mở và việc cập nhận thông tin của các trang web không thường xuyên,…gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận, khai thác thông tin, đặc biệt là các loại tài liệu về quy hoạch, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật, các quy định, văn bản chỉ đạo điều hành, thông tin về ngân sách, về chính sách của tỉnh…
- Thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà, các văn bản quy định về thủ tục hành chính thường xuyên có sự thay đổi, trong khi đó việc rà soát bãi bỏ hoặc bổ sung để công khai chưa thường xuyên.
- PCI được đo lường, đánh giá bởi 10 chỉ số thành phần, có tất cả 112 chỉ tiêu của 10 chỉ số thành phần, tuy nhiên có đến 69 chỉ tiêu là định tính (chiếm đến 61,6% tổng số chỉ tiêu), chỉ có 43 chỉ tiêu là định lượng (chỉ chiếm 38,4%). Đặc biệt, các chỉ số như: chi phí không chính thức (có 05 chỉ tiêu), tính năng động và tính tiên phong của lãnh đạo tỉnh (06 chỉ tiêu), cạnh tranh bình đẳng (14 chỉ tiêu), tất cả các chỉ tiêu của các chỉ số này đều là định tính. Do đó, việc triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian qua gặp không ít khó khăn. 

* Nguyên nhân chủ quan
- Việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TU ngày 11/07/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” còn rất chậm. Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, tạo sự chuyển biến trong toàn bộ hệ thống chính trị và sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp còn hạn chế.

Qua báo cáo của các đơn vị gửi về, đến nay, chỉ có 07 đơn vị cấp ủy xây dựng Chương trình hành động hoặc Kế hoạch để thực hiện Chỉ thị số 27 (Thành ủy Long Xuyên và Châu Đốc, Huyện ủy Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, Châu Thành, Phú Tân), 10 đơn vị cấp Ủy ban nhân dân huyện (thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu và các huyện Chợ Mới, Phú Tân, Châu Phú, Tri Tôn, An Phú, Tịnh Biên, Châu Thành), 20 đơn vị thuộc sở, ban ngành (Nội vụ, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Lao động – Thương binh và Xã hội, Giao thông – Vận tải, Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Ngoại vụ, Y tế, Cục thuế tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Thanh tra tỉnh, Cục Hải quan, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư, Bảo hiểm Xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - chi nhánh An Giang).

Riêng Sở Kế hoạch và Đầu tư với vai trò và trách nhiệm được giao, đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1288/QĐ-UBND ngày 12/8/2014 về việc ban hành Kế hoạch nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2014 - 2015 và định hướng năm 2020; Quyết định số 2573/QĐ-UBND ngày 13/11/2015 về việc phê duyệt phân công nhiệm vụ thực hiện Kế hoạch nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tỉnh An Giang giai đoạn 2015-2020.

- Ủy ban nhân dân tỉnh đã phân công rõ trách nhiệm đơn vị phụ trách đối với từng chỉ số, chỉ tiêu; phân công cơ quan đầu mối, cơ quan phối hợp nhưng việc tổ chức thực hiện chưa quyết liệt, chưa thật sự thường xuyên, chưa đi vào trọng tâm, trọng điểm.

- Quá trình triển khai thực hiện thiếu sự kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở, thiếu rà soát các quy định có liên quan do tỉnh ban hành…dẫn đến chồng chéo trong quy định về thời gian thực hiện.

- Chưa có sự đánh giá các chương trình, kế hoạch do cấp tỉnh, cấp huyện triển khai thực hiện có phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

- Triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh quá chậm hoặc chưa thực hiện, từ đó tác động đến nhiệm vụ, giải pháp chung của các chỉ số thành phần PCI như: chưa đưa vào hoạt động Trung tâm tiếp nhận và trả kết quả cấp tỉnh (do chưa tìm được địa điểm), rút ngắn thời gian trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính giảm 20% so với quy định (chỉ có đăng ký doanh nghiệp là đã thực hiện giảm hơn 2/3 thời gian so với quy định),...

- Vẫn còn tình trạng ở một số nơi trong tỉnh chưa thể hiện được tinh thần xem doanh nghiệp là động lực của phát triển, vì doanh nghiệp mà phục vụ thể hiện qua việc chưa ưu tiên giải quyết, chưa ưu tiên trả lời hồ sơ được lấy ý kiến có liên quan đến đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Sắp tời, để củng cố, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tỉnh An Giang giai đoạn 2016 – 2020, cần nhanh chóng nghiên cứu, tập trung tổ chức thực hiện tốt một số giải pháp như sau.

Ban hành Chương trình hành động của Ủy ban nhân dân tỉnh về nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tỉnh An Giang giai đoạn 2016 – 2020.  Tiếp tục thực hiện Kế hoạch số 513/KH-UBND ngày 09/11/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh An Giang đến năm 2020.

Đưa Trung tâm tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính cấp tỉnh vào hoạt động trong quý III năm 2016. Trong đó, các cơ quan có liên quan đến thủ tục đầu tư của doanh nghiệp phải vận hành trước, bao gồm các Sở, ngành: Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Tài chính, Thuế, Công thương, Điện lực, Kho bạc, Cảnh sát Phòng cháy Chữa cháy. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cơ chế phối hợp giải quyết thủ tục đầu tư của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phát huy hiệu quả hoạt động của Ban Hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư của tỉnh. Hàng tuần họp để xử lý kịp thời các vấn đề khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Mời Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hợp tác với tỉnh để tư vấn các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh./.
                                   
TRUNG KIÊN


Tiến tới đại hội đảng
Giải phóng miền Nam
Số lần xem các bài viết
18089667