Về hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh

(TGAG)- Sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn đầy biến động của đất nước; được kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất của quê hương và gia đình, khi còn là một thiếu niên 15 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã sớm biết đau nỗi đau mất nước, xót xa trước nỗi thống khổ của đồng bào, đã sớm có chí đuổi giặc, cứu nước, giải phóng dân tộc.

Thường xuyên được cha là Nguyễn Sinh Sắc chăm sóc, dạy dỗ, được hầu cha mỗi khi cha đàm đạo chuyện “quốc sự” cùng các vị túc nho như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quí, Đặng Nguyên Cẩn... sau này Người kể:

“Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau: ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp? Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Điều đó cho thấy, Nguyễn Tất Thành đã sớm có ý thức khám phá thời đại để tìm ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.

Tại cảng Nhà Rồng, ngày 5/6/1911, với tên mới Văn Ba, anh theo tàu Amiral Latouche Tréville rời đất nước ra đi. Không khoác áo nhân sĩ, ra đi trong tư cách một người lao động, làm bồi tàu, thủy thủ, hằng ngày làm việc nặng nhọc, quần quật 15-16 giờ, từ 4 giờ sáng đến 7-8 giờ tối. Nguyễn Tất Thành khởi nghiệp với đôi bàn tay trắng, với một ý chí mãnh liệt, một nghị lực phi thường, một mình tiến hành cuộc trường chinh 30 năm đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Từ cảng Nhà Rồng, anh đã lần lượt đi đến tất cả gần 30 nước. Vào đầu thế kỷ XX, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc là một trong số rất ít các nhà hoạt động cách mạng đương thời có điều kiện đi nhiều, có một vốn hiểu biết khá tường tận về Chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng. Bản thân là người dân thuộc địa, ra nước ngoài hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của vô sản chính quốc, gần 10 năm bôn ba, khảo sát các thuộc địa của đế quốc Anh, Pháp, Đức - từ châu Á, Phi đến Mỹ Latinh, nên có hiểu biết về bản chất chung, màu sắc riêng của mỗi nước đế quốc cũng như trình độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội khác nhau giữa các nước thuộc địa.

Nhờ thực tiễn đó, cùng với một năng lực tư duy độc lập, tự chủ, đã giúp Nguyễn Ái Quốc không rơi vào các khuynh hướng cơ hội nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận một cách giáo điều những công thức lý luận không phù hợp với thực tế các nước thuộc địa, nhất là phương Đông.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp vào lúc cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vừa bùng nổ thắng lợi. Nhân Hội nghị hòa bình Versailles, cùng với Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc, đưa ra bản Yêu sách 8 điểm, đòi quyền bình đẳng về pháp lý và các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Bản Yêu sách không được các đế quốc thắng trận để mắt tới, anh rút ra kết luận: Chương trình 14 điểm của Tổng thống Mỹ Wilson chỉ là một trò bịp lớn, “muốn giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình”. Chính nhờ thắng lợi của cách mạng Nga, rồi đọc Luận cương của Lénine về vấn đề dân tộc và thuộc địa mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ánh sáng cho con đường giải phóng dân tộc mình trong sự nghiệp giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức. Kết thúc Đại hội Tours của Đảng Xã Hội Pháp (25 - 30/12/1920), Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế 3, đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc: từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Marx - Lénine, đồng thời mở ra bước chuyển cho bao thế hệ người Việt Nam: từ người yêu nước thành người Cộng Sản.

Nguyễn Ái Quốc khởi đầu hoạt động đấu tranh cách mạng của mình bằng việc cùng một số đồng chí khác lập Hội Liên Hiệp thuộc địa và ra báo Le Paria ở tại thủ đô Paris để làm công cụ tố cáo những tội ác man rợ của bọn thực dân ở thuộc địa, nhằm làm cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới biết được sự thật về cái gọi là “chính sách khai hóa” của bọn thực dân, gây men căm giận, phẫn nộ, từ đó kêu gọi “nô lệ thức tỉnh”.

Sau khi đến Liên Xô, tham gia một khóa học lý luận ngắn hạn, rồi được mời tham dự nhiều đại hội, hội nghị quốc tế lớn, Nguyễn Ái Quốc có cơ hội vừa lắng nghe, học tập, vừa vận dụng vốn lý luận, kinh nghiệm thực tiễn của mình, tham gia vào tranh luận, đưa ra những ý kiến sắc sảo, những luận điểm riêng, góp phần bổ sung, phát triển lý luận của Lénine về cách mạng ở thuộc địa.

Trước khi rời Moscow đi về phương Đông, Nguyễn Ái Quốc thấy cần thiết phải chính thức phát biểu quan điểm của mình với Ban Chấp hành Quốc Tế Cộng sản. Người nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Marx sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi nước. Người đặt vấn đề: “Marx đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? - Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Người mạnh dạn kiến nghị: “Xem xét lại chủ nghĩa Marx về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ các Xô viết phải đảm nhiệm”.

Nhờ tư duy độc lập, tự chủ và đầy sáng tạo đó, khi đến Quảng Châu, Người đã viết tác phẩm Đường Kách Mệnh đặt cơ sở cho sự hình thành đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam theo đường lối cách mạng vô sản; nó đánh dấu sự chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước đã diễn ra từ cuối thế kỷ XIX cho đến những năm 20 của thế kỷ XX rồi sau đó lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội.

Chuẩn bị cho Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930), Nguyễn Ái Quốc đã soạn Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng của Người về con đường cách mạng Việt Nam. Sách lược vắn tắt của Đảng cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, cùng với Chính cương vắn tắt trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, nguồn gốc tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Sau nhiều năm dày công chuẩn bị về chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng, đào tạo, huấn luyện cán bộ cho cách mạng Việt Nam, để chủ động đón thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, ngày 28/1/1941, Người đã vượt qua biên giới Việt -Trung, đặt chân lên mảnh đất địa đầu của Tổ quốc thân yêu sau mấy chục năm xa cách, kết thúc hành trình ra đi tìm đường cứu nước của mình. Một hành trình vĩ đại, vạn dặm, quả cảm và đầy sáng tạo để tìm ra con đường cứu nước cho Tổ quốc và dân tộc Việt Nam.

ĐẶNG HOÀI DŨNG
Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh

70 năm thi đua ái quốc
Thống Kê

Đang có 206 khách online

Số lượt xem : 5916643