Truy cập hiện tại

Đang có 27 khách và không thành viên đang online

Công tác Tuyên giáo của Đảng góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

(TGAG)- Để đưa cách mạng đi đến thành công, ngay sau khi thành lập Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẩn trương thành lập nhiều lĩnh vực công tác của Đảng, trước hết phải kể đến công tác tư tưởng chính trị - một hoạt động đặc biệt gắn liền với truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng.

Chỉ mới 8 tháng sau khi Đảng ra đời, nhân ngày Quốc tế đỏ (ngày 01-8-1930), Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng phát hành tài liệu “Ngày Quốc tế đỏ mồng 01-8”, lên án chiến tranh đế quốc, kêu gọi giai cấp công nhân và các tầng lớp khác trong xã hội vùng lên chống chủ nghĩa đế quốc, chống áp bức, bóc lột, phản đối chiến tranh xâm lược, bảo vệ hòa bình, bảo vệ Liên bang Xô-Viết. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác tư tưởng, tuyên truyền, cổ động có bước phát triển mới về chất nhằm tuyên truyền, cổ động thực hiện mục tiêu cơ bản của Cách mạng Việt Nam lúc này là đánh đổ đế quốc, giành độc lập dân tộc. Nhân kỷ niệm 71 năm Cách mạng Tháng Tám, chúng ta ôn lại một số đóng góp quan trọng của ngành Tuyên giáo trong thời điểm lịch sử đặc biệt của dân tộc.

1- Tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam để giác ngộ quần chúng về con đường đúng đắn, phù hợp với lịch sử Việt Nam, theo xu thế thời đại, tiến tới thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam

Công tác tư tưởng, tuyên truyền, cổ động được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt nền móng bằng chính những hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin và con đường cứu nước đúng đắn vào Việt Nam. Trong các tác phẩm, các bài báo, bài giảng của mình, Người đã kết hợp việc phổ biến những giá trị cốt lõi của lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin với việc giới thiệu những phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, chỉ rõ cho Nhân dân ta con đường đi đến độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. "Đường Kách mệnh" là một trong những tác phẩm có giá trị to lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở Việt Nam những năm 20 của thế kỷ XX. Người tổ chức chuyển tài liệu, sách vở, báo chí về nước; gấp rút đào tạo cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; tổ chức tuyên truyền, cổ động tư tưởng cứu nước trong Nhân dân; mở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu để trang bị cho các học viên những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về những nguyên tắc hoạt động bí mật và kỹ năng thực hành các công việc tuyên truyền, vận động quần chúng đi theo cách mạng; chọn những học viên ưu tú kết nạp vào nhóm bí mật, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và cử về nước gây dựng phong trào “vô sản hóa”, góp phần đẩy nhanh quá trình giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lê-nin của giai cấp công nhân, Chủ nghĩa Mác - Lê-nin do Nguyễn Ái Quốc có công truyền bá, đã thật sự chiếm lĩnh được lòng tin của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, đặt tiền đề quan trọng để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

2- Tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, giác ngộ và lôi cuốn quần chúng theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Xuất phát từ đặc điểm Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám là nước thuộc địa nửa phong kiến, trình độ giác ngộ của quần chúng chưa cao nên Đảng ta luôn coi trọng công tác tuyên truyền, vận động cách mạng, nhấn mạnh vai trò của công tác tư tưởng với mục đích trước hết là động viên các tầng lớp Nhân dân, làm cho quần chúng hiểu Đảng, tin Đảng, ủng hộ và đi theo Đảng làm cách mạng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng, lực lượng làm công tác tuyên truyền đã cùng toàn Đảng, toàn dân lấy vũ khí tư tưởng kết hợp với các hình thức, các lực lượng đấu tranh cách mạng chống đế quốc, phong kiến, đòi dân chủ, dân sinh, dân quyền, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; kết hợp đấu tranh chính trị, tư tưởng với đấu tranh quân sự, đấu tranh ngoại giao... Những chiến sĩ làm công tác tuyên truyền đã không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, bám dân, bám phong trào, gan góc chiến đấu, đưa đường lối của Đảng đến với quần chúng Nhân dân, thắp lên trong họ niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng cộng sản, vào thắng lợi của Đảng, của dân tộc; trong đó, không ít người đã oanh liệt ngã xuống.

Nội dung tuyên truyền tập trung phổ biến chủ trương của Đảng, hướng dẫn Nhân dân thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc. Nhằm giải quyết nhiệm vụ hàng đầu là đánh đổ đế quốc và tay sai, theo tinh thần các hội nghị: Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11-1939), Hội nghị Trung ương 7 (tháng 11-1940) và đặc biệt là Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941). Sau hội nghị Trung ương 8, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết “Kính cáo đồng bào” chỉ ra cơ hội giải phóng đã đến, kêu gọi toàn dân đoàn kết, đánh đuổi Pháp - Nhật. Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh viết bài “Chính sách mới của Đảng” để phổ biến Nghị quyết hội nghị lần thứ 8, giải thích rõ tình hình chiến tranh thế giới thay đổi đã tác động đến tình hình Đông Dương và chủ trương của Đảng là động viên mọi lực lượng cách mạng và yêu nước đứng lên giải phóng dân tộc khỏi ách phát xít Nhật - Pháp, trong đó yêu cầu: Công tác tuyên truyền phải phổ biến tinh thần Nghị quyết đến chi bộ. Báo Việt Nam độc lập (Mặt trận Việt Minh tỉnh Cao Bằng), Tạp chí Cộng sản (cơ quan lý luận chính trị của Đảng), Báo Cứu quốc (Tổng bộ Việt Minh), Báo Giải phóng (Liên Tỉnh ủy miền Đông), Báo Cờ giải phóng (Trung ương Đảng), Báo Tiền phong (Xứ ủy Nam Kỳ)... lần lượt ra đời để tuyên truyền rộng rãi chủ trương của Đảng. Tháng 3-1944, Bộ Tuyên truyền, cổ động Việt Minh xuất bản cuốn sách “Tuyên ngôn, Chương trình, Điều lệ của Mặt trận Việt Minh” nhằm hiệu triệu toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, hướng tới mục tiêu độc lập, giải phóng dân tộc. Trước tình hình cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 có lợi cho cách mạng nước ta, ngày 07-5-1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “Về sửa soạn khởi nghĩa”, chỉ rõ: “Phải dùng đủ mọi phương pháp kiên nhẫn thuyết phục đồng bào đánh tan những mưu đồ lừa phỉnh xảo quyệt của phát xít Nhật, Pháp - chú trọng nhất là việc chống âm mưu lập chính phủ bù nhìn của giặc Nhật và bè lũ Việt gian”; “Phải hết sức cổ động quần chúng nhiệt liệt tham gia các cuộc quyên tiền mua võ khí...”. Trong công tác địch vận, chỉ thị yêu cầu: “Hết sức vận động binh lính của địch, tổ chức họ vào các hội “Việt Nam quân nhân cứu quốc” làm cho họ giác ngộ, đem súng của quân địch lại cho ta... Nếu ta kiên nhẫn tuyên truyền, tổ chức họ thì nhất định đến giờ khởi nghĩa, một phần đồng bào, binh lính sẽ mang súng của giặc chạy về phe cách mạng”. Chuẩn bị lực lượng cho đấu tranh vũ trang, tháng 12-1944, Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và chỉ rõ: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền”. Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nhấn mạnh nhiệm vụ tuyên truyền, đề ra khẩu hiệu “Chính quyền cách mạng của Nhân dân”, dùng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật” thay cho khẩu hiệu “Đánh đuổi Nhật, Pháp”; yêu cầu thay đổi mọi hình thức tuyên truyền, cổ động cho hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa.

Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, công tác tuyên truyền, cổ động được triển khai tích cực, động viên Nhân dân đứng lên đánh Nhật cứu nước, với những khẩu hiệu cụ thể như: “Đánh Nhật là con đường sống duy nhất; đánh Nhật nhất định gian nan, gay go; Đánh Nhật nhất định thắng lợi; Toàn dân phải ủng hộ Quân giải phóng...”. Sau một thời gian ngắn, công tác tuyên truyền, cổ động đã tích cực phổ biến, giải thích cho Nhân dân nắm được tình hình và chủ trương của Đảng, chuẩn bị tinh thần cho cuộc Tổng khởi nghĩa.

Ngày 14, 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào đề ra chủ trương kịp thời lãnh đạo Nhân dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đồng thời, vạch ra phương hướng, mục tiêu, hình thức tuyên truyền, cổ động như: Phát truyền đơn và dán áp phích, dùng ra-đi-ô, loa truyền thanh để truyền tin, mít-tinh, biểu tình thị uy võ trang, phát hành báo chí, in truyền đơn, biểu ngữ, thông cáo... Cùng thời điểm đó, Tổng bộ Việt Minh ra lời Hiệu triệu: “Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến! Dân tộc ta đến lúc vùng dậy cướp lại quyền độc lập của mình!”. Ngày 18-8-1945, Hồ Chí Minh viết thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa gửi quốc dân, đồng bào: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Do được chuẩn bị trước về tinh thần, kết hợp với công tác tuyên truyền, cổ động dưới nhiều hình thức mạnh bạo hơn như mít-tinh diễn thuyết có cờ, băng, áp-phích, truyền đơn, tờ bướm, tổ chức những cuộc hát đồng thanh và thao diễn... Các đội “Tán phát xung phong” được thành lập ở nhiều địa phương với hoạt động diễn thuyết công khai, đồng thời thông qua đội ngũ cán bộ cốt cán của Đảng, Nhân dân ta đã hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất tề nổi dậy giành chính quyền.

3- Tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ chính quyền non trẻ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Công tác tư tưởng thời kỳ sau thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tập trung giáo dục ý chí kiên cường, bất khuất, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh, sẵn sàng làm mọi việc để bảo vệ độc lập, tự do; cổ vũ Nhân dân thực hiện ba nhiệm vụ lớn: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc. Lúc này khẩu hiệu tuyên truyền là “Dân tộc là trên hết”, “Tổ quốc là trên hết”. Các cán bộ Đảng, đoàn thể, Mặt trận... được phái đi khắp mọi nơi tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia sản xuất, chống đói, xóa nạn mù chữ, phát triển và củng cố các đoàn thể Cứu quốc..., dấy lên phong trào làm theo Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!”...

Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất cứu đói, việc chống nạn mù chữ cũng được tuyên truyền rộng rãi, thành một cao trào ở các địa phương. Khắp nơi có khẩu hiệu “Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt”, “Thêm một người đi học là thêm một viên gạch xây nền độc lập của nước nhà”... Nhiều ca dao, hò vè được sáng tác để cổ vũ phong trào, gây ấn tượng sâu sắc như “Lấy chồng biết chữ là tiên, lấy chồng mù chữ là duyên lỡ làng”... Thời kỳ này, lớp học mở ở đình chùa, nhà dân, gốc đa, góc chợ…, phấn viết có thể là phấn trắng; than đen, vôi tôi, gạch non…, bảng viết có thể là cánh cửa, tấm phản, sân gạch... Đâu đâu cũng thấy khẩu hiệu “Đi học là kháng chiến”, “Có học thì kháng chiến mới thắng lợi”, “Mỗi lớp bình dân là một tuyên truyền kháng chiến”... Kết quả là sau một năm đã có 2 triệu người thoát nạn mù chữ. Tháng 9-1945, nhân ngày khai giảng năm học mới đầu tiên sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh cả nước, khuyến khích các cháu học tập tốt sau này đem tài năng phục vụ đất nước. Người viết “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ phần lớn ở công học tập của các em”.

Cuộc vận động xây dựng đời sống mới, giáo dục tinh thần yêu nước, tuyên truyền sâu rộng chống các hủ tục lạc hậu. Nạn trộm cắp, cờ bạc, các hủ tục ma chay, cưới xin được xóa bỏ ở nhiều nơi, công tác thông tin ở cơ sở, phong trào văn nghệ cách mạng có tính quần chúng, nhất là ca hát phát triển rộng rãi... Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thể dục thể thao dưới khẩu hiệu “Khỏe vì nước” đã được phát triển sâu rộng.

Để củng cố chính quyền cách mạng, thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân, Chính phủ quyết định tổ chức tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, xây dựng Hiến pháp và lập Chính phủ chính thức. Công tác tuyên truyền vận động bầu cử thực sự là một cuộc đấu tranh gay gắt chống lại sự phá hoại của các thế lực trong và ngoài nước. Khẩu hiệu phổ biến mọi nơi là: “Tất cả cử tri tới thùng phiếu”; “Mỗi lá phiếu là một viên đạn diệt thù”.

Công tác tuyên truyền được mở rộng thông tin ra nước ngoài, nhằm làm cho nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới (trước hết là ở Pháp) hiểu được và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của đồng bào ta. Ngày 14-3-1946, mười vạn Nhân dân thủ đô họp mít-tinh để tố cáo những hành động trái với Hiệp định của Pháp, đòi Pháp đình chỉ những hành động xâm lược và mở ngay đàm phán chính thức ở Paris. Hoạt động tuyên truyền đối ngoại đã làm cho dư luận tiến bộ Pháp và thế giới hiểu rõ hơn tình hình nước ta, hoan nghênh lập trường đàm phán đúng đắn của ta, đánh tan sự bưng bít thông tin về tình hình Việt Nam và sự xuyên tạc lập trường của ta do bọn thực dân Pháp bịa đặt.

Tóm lại, tuyền thống dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, truyền thống của Đảng trong 86 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã cho thấy: Khó khăn, thử thách không bao giờ làm lùi bước dân tộc ta, Nhân dân ta, Đảng ta. Do vậy, sứ mệnh của Ngành Tuyên giáo trong giai đoạn mới của cách mạng nước nhà là phải thắp sáng tinh thần đó vào mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, tạo động lực tinh thần để dân tộc tiếp bước đi lên tới đài vinh quang./.
T.P.H

____________
Tham khảo Lược sử công tác tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam - BTGTW


Tiến tới đại hội đảng
Dua-nghi-quyet-vao-cuoc-song
Giải phóng miền Nam
Số lần xem các bài viết
15589532