Truy cập hiện tại

Đang có 118 khách và không thành viên đang online

Kế thừa và phát huy truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

(TUAG)- Xuất phát từ thực tiễn cách mạng miền Nam, ngày 13/01/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa II) ra Nghị quyết 15 với nội dung chuyển từ đấu tranh chính trị tiến lên đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Đây là bước ngoặt mới cho cách mạng miền Nam, một trong những nhiệm vụ quan trọng đó là chi viện lực lượng, vũ khí trang bị cho chiến trường miền Nam bằng mở đường Trường Sơn và chuẩn bị mở đường vận tải trên biển “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Khóa II), Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tổ chức tuyến vận tải bộ trên đường Trường Sơn và tuyến vận tải trên biển để chi viện lực lượng, vũ khí trang bị cho miền Nam đánh Mỹ - Ngụy.

Sau Nghị quyết 15, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng đã triển khai nhiều việc nhằm chi viện lực lượng, phương tiện, vũ khí trang bị cho cách mạng miền Nam. Một trong những việc quan trọng là mở đường vận tải trên biển vào Nam Bộ. Chuyến đi ngày 27/01/1960 của Tiểu đoàn Vận tải thủy 603 dự định vào bến Hố Chuối, chân đèo Hải Vân không thành công, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Tiểu đoàn Vận tải thủy 603 tạm ngừng hoạt động. Bộ Tổng Tham mưu tiến hành nghiên cứu phương án mới.

Đến quý 1 năm 1961 Bộ Tổng Tham mưu đã hoàn thành Đề án về tổ chức con đường vận tải chiến lược trên biển chi viện cho chiến trường miền Nam.


Trung đoàn 1 phối hợp với Trung đoàn 962 Quân khu 9 tiến quân ra giải phóng đảo Thổ Chu, tháng 5/1975. Ảnh: Tư liệu

Nội dung đề án nêu rõ:

1. Phương châm tổ chức vận tải: Tận dụng mọi hình thức hợp pháp, bất hợp pháp, bất hợp pháp là chủ yếu; xây dựng khả năng chuyên môn và phương tiện ở miền Bắc, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của miền Nam; kiên quyết bảo vệ hàng trong mọi trường hợp; khi không bảo vệ được hàng thì triệt để thủ tiêu không để lọt hàng vào tay địch; tuyệt đối giữ bí mật mọi kế hoạch hoạt động của cơ quan, đơn vị.

2. Phương pháp tiến hành: Phải bảo đảm chắc ăn, lợi dụng sơ hở của địch để tổ chức vận chuyển, theo khả năng phương tiện vận tải thô sơ, bán hiện đại; kết hợp mọi hình thức hợp pháp để tổ chức vận chuyển vững chắc, lâu dài.

3. Nguyên tắc xây dựng lực lượng: Gọn, bảo đảm chất lượng, tập trung nhanh chóng xây dựng thuyền buồm kết hợp máy đẩy, nghiên cứu tổ chức thủy đội hải quân để không bị động về thời tiết. Về cán bộ và thủy thủ, yêu cầu tiêu chuẩn, trình độ, giác ngộ chính trị cao, chuyên môn giỏi, sức khỏe tốt.

4. Nhiệm vụ: Nghiên cứu đóng thuyền máy trọng tải từ 15 đến 30 và 50 tấn, tận dụng phương tiện của miền Nam để tăng khả năng vận chuyển. Trước mắt vận chuyển hàng hóa, vũ khí vào chiến trường Nam Bộ.

5. Tổ chức biên chế: Phải hết sức gọn nhẹ, cụ thể gồm cơ quan và khối các đội tàu thuyền. Khối cơ quan có các ban tham mưu, chính trị, hậu cần, hành chính.

Thực hiện đề án trên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo cho các tỉnh ven biển ở Nam Bộ chủ động chuẩn bị bến bãi và tổ chức cho thuyền vượt biển ra Bắc, vừa thăm dò, nắm tình hình địch và nghiên cứu tuyến vận chuyển trên biển, vừa nhận vũ khí chở về phục vụ cho chiến trường Nam Bộ. Đầu năm 1961, Trung ương Cục chỉ đạo cho một số tỉnh ven biển ở Nam Bộ gồm: Cà Mau, Trà Vinh (Khu 9), Bến Tre (Khu 8), Bến Rịa (Khu 7) tổ chức lực lượng và tàu thuyền để làm nhiệm vụ quan trọng này.

Từ đề án của Bộ Tổng Tham mưu và qua báo cáo của đồng chí Bông Văn Dĩa vừa từ Cà Mau ra, trung tuần tháng 8 năm 1962, Thường trực Quân ủy Trung ương họp, chính thức thông qua nghị quyết về tổ chức con đường vận tải chiến lược trên biển chi viện cho cách mạng miền Nam. “Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh hỏi: “Liệu có thể bảo đảm chắc chắn được 50% những chuyến đi không ?”. Đồng chí Trần Văn Trà trả lời: “Đạt 100% thì khó chứ 50% thì tôi chắc được!”. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị nói: Chỉ cần nửa số chuyến đi vào được bến cũng đã là thắng lợi to rồi. Sau đó mọi việc được khẩn trương triển khai.

Để sớm triển khai nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho miền Nam bằng đường biển, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Đoàn 759 đặt Xưởng đóng tàu 1 Hải Phòng sửa chữa thuyền Trà Vinh ra và đóng mới 4 thuyền gỗ gắn máy theo kiểu thuyền đánh cá của ngư dân miền Nam, có trọng tải 30 tấn. Việc chuẩn bị mọi mặt cho chuyến đi được Đoàn 759 thực hiện khẩn trương, chu đáo. Tàu đầu tiên này được đặt tên là “Phương Đông 1”.

Mọi công tác chuẩn bị xong, tàu “Phương Đông 1” xuất phát lúc 22 giờ 30, ngày 11 tháng 10 năm 1962 chở 30 tấn vũ khí, rời Bến Vạn Sét, Đồ Sơn, Hải Phòng đi theo đường kẻ đã vạch sẵn để vào Bến Cà Mau. Trên đường đi, con thuyền đã vượt qua sự phong tỏa kiểm soát của kẻ thù, đến 6 giờ ngày 17 tháng 10 năm 1962 (nhằm ngày 19 tháng 9 âm lịch), tàu bắt được liên lạc qua ám hiệu với bộ phận Bến của đơn vị HN75, do đồng chí Nguyễn Văn Phán trực tiếp ra đón, đưa tàu vào Vàm Lũng và vào đậu, bốc hàng tại rạch Chùm Gộng, ấp Rạch Gốc, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau an toàn. Sau khi tàu vào đến nơi an toàn, đồng chí Bông Văn Dĩa đã báo cáo ngay với Khu ủy Khu 9. Sáng ngày 19 tháng 10 năm 1962 khi Quân ủy Trung ương đang họp tại Nhà khách 28 Cửa Đông, thì nhận được điện của đồng chí Phạm Thái Bường: “Tàu Lê Văn Một, Bông Văn Dĩa đã đến nơi! An toàn, đầy đủ. Các đồng chí trên tàu đều khỏe mạnh”.

Thắng lợi của Tàu “Phương Đông 1” đã chính thức mở thông tuyến vận chuyển chiến lược trên biển Đông, chi viện cho chiến trường Nam Bộ. Từ thắng lợi này Trung ương Cục chỉ đạo cho các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bà Rịa gấp rút xây dựng các Bến, đồng thời quyết định thành lập đơn vị mới, lấy phiên hiệu Đoàn 962 đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục, với nhiệm vụ “Xây dựng các Bến, đón nhận hàng quân sự do tàu từ miền Bắc chuyển vào, lập kho tàng cất giữ và vận chuyển tới các chiến trường Nam Bộ”. Ngày 19 tháng 9 năm 1962 là ngày thành lập và cũng là ngày truyền thống của Đoàn 962, nay là Lữ đoàn 962 - Quân khu 9.

Như vậy, với sự chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, việc tổ chức chặt chẽ của Đoàn 759 và sự đóng góp rất quan trọng của Đoàn 962, đặc biệt là thuyền do đồng chí Bông Văn Dĩa chỉ huy, tuyến vận tải chiến lược trên biển “Đường Hồ Chí Minh trên biển” đã thông suốt. Chỉ từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1962, bốn tàu Phương Đông 1, 2, 3, 4 đã chi viện cho chiến trường Nam Bộ được 113,774 tấn vũ khí, trong lúc Nam Bộ rất thiếu vũ khí và đường Trường Sơn chưa vươn tới, nên giá trị của thắng lợi trên là rất to lớn.

Để đáp ứng yêu cầu mở rộng phạm vi hoạt động, quy mô tổ chức và nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam; Bộ Quốc phòng khẩn trương cho đóng mới các con tàu bằng sắt có trọng tải từ 80 - 100 tấn, mã lực mạnh, bảo đảm đi đường xa và sức chịu sóng, gió lớn trang bị cho Đoàn 125 - Quân chủng Hải quân. Còn ở miền Nam, Trung ương Cục chỉ đạo bổ sung, sắp xếp Đoàn 962 với qui mô tương đương cấp Sư đoàn, gồm 4 đơn vị Bến: HN75 - Bến Cà Mau; B22 - Bến Trà Vinh; A101 - Bến Bến Tre và Đoàn 1500 - Bến Bà Rịa.  Sở Chỉ huy của Đoàn đặt tại Cồn Tra, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, với các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần tinh gọn và các bộ phận trực thuộc Thông tin, Cơ yếu, Quân y, Quân lương, Quân trang, Tài vụ…

Như vậy, sau thời gian khẩn trương xây dựng các bến mới, tích cực mở rộng phạm vi hoạt động theo sự chỉ đạo của trên, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ của Đoàn 962 đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, gian khổ và ác liệt của chiến trường; với tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo; sự đoàn kết gắn bó của một tập thể đơn vị được quy tụ từ khắp cả nước và sự đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể giữa đơn vị Bến và Tàu, giữa Đoàn 962 và các đơn vị của Bộ; với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, với quyết tâm “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đoàn 962 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Quân đội giao, tổ chức tiếp nhận an toàn 124 chuyến tàu, với 6.545 tấn vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam; cất giữ, vận chuyển an toàn vũ khí trang bị giao cho các Quân khu 7, 8, 9 và Bộ Chỉ huy Miền, góp phần đánh bại trận càn “Phượng Hoàng GT-1”, các chiến thuật “Sa mù trận”, “Bủa lưới phóng lao”, “Biệt kích rừng xanh” và làm thất bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ - Ngụy, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Công lao và thành tích của Đoàn 962 đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương: Đơn vị anh hùng LLVTND ngày 20/10/1976; được tặng thưởng 169 huân, huy chương các hạng; 04 tập thể thuộc Đoàn 962 được tuyên dương đơn vị anh hùng LLVT nhân dân; Đại đội 169 được tặng danh hiệu “Thành đồng”; 8 đồng chí: Phan Văn Nhờ, Bông Văn Dĩa, Nguyễn Đắc Thắng, Đinh Đức Dừa, Lê Văn Lòng, Chung Thành Châu, Nguyễn Văn Phối, Ngô Văn Tân được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân, 45 đồng chí được tặng danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ”, “Dũng sỹ diệt Ngụy” và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng huân, huy chương các loại, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Kể từ khi thành lập đến nay, Lữ đoàn đã trải qua 59 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Lớp lớp cán bộ, chiến sĩ của Lữ đoàn đã không ngừng phát huy truyền thống chiến đấu vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mở đường, mở bến, vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam phục vụ cho chiến trường Nam bộ. Sau ngày thống nhất đất nước, Lữ đoàn đã sát cánh cùng Nhân dân ĐBSCL chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.

Phát huy truyền thống “Đoàn tàu không số”, trước yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đảng ủy, Chỉ huy Lữ đoàn xác định: “Tiếp tục phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, tập trung mọi nỗ lực cố gắng của toàn Đảng bộ, phát huy sức mạnh tổng hợp của con người và tổ chức, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, quản lý tốt nền nếp kỷ luật, củng cố kiện toàn hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng vững mạnh, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ các cấp, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội, ra sức khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao”.


Giáo dục truyền thống cho chiến sĩ mới

Trong những năm qua, Lữ đoàn 962 luôn đạt thành tích cao trong công tác huấn luyện, sẵn dàng chiến đấu; thể hiện tốt vai trò nòng cốt trong công tác phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, tạo được niềm tin đối với Nhân dân và chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng quân. Lữ đoàn đã tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện phòng chống lụt bão, cứu hộ cứu nạn, vì đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng và hết sức phức tạp, đòi hỏi công tác chuẩn bị và thực hành huấn luyện phải tiến hành một cách tĩ mĩ, nghiêm túc. Trong quá trình huấn luyện, đơn vị luôn chú trọng công tác kiểm tra, theo dõi, đánh giá kết quả học tập của bộ đội. Bên cạnh huấn luyện theo kế hoạch chung, Lữ đoàn còn tổ chức huấn luyện bổ sung những nội dung còn yếu, nhất là kỹ thuật, động tác cứu vớt người và tàu, thuyền gặp nạn trên sông, huấn luyện bổ túc tay lái cho đội ngũ cán bộ… qua đó trình độ, kinh nghiệm của bộ đội không ngừng được nâng lên, vững vàng, tự tin hơn trong xử trí các tình huống.

Do làm tốt công tác chuẩn bị, trong 5 năm gần đây, Lữ đoàn đã cứu hộ thành công trên 15 xuồng ghe các loại (trong đó có 06 xà lan từ 300 đến 850 tấn) bị chìm, lật và hàng trăm người dân gặp nạn trôi dạt trên sông; tham gia dập tắt 3 đám cháy lớn, kịp thời sơ tán hàng trăm người dân và nhiều tài sản có giá trị đến nơi an toàn; di dời hàng trăm hộ dân ra khỏi khu vực sạt lở tại thành phố Long Xuyên; đắp hàng ngàn mét đê bao ngăn lũ tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp; hoàn thành xuất sắc các đợt Diễn tập phòng chống lụt bão, cứu hộ cứu nạn cấp Quốc Gia tại các tỉnh Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng; đã có trên 30 lượt cán bộ, chiến sĩ và 12 tập thể được Bộ Quốc phòng; Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương; Bộ Tư lệnh Quân khu; UBND các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long tặng Bằng khen. Những thành tích trên khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, tinh thần chủ động sáng tạo khắc phục khó khăn và lòng dũng cảm sẵn sàng hy sinh của cán bộ, chiến sĩ đơn vị, tô thắm phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.

Bên cạnh công tác huấn luyện, Đảng ủy, Chỉ huy Lữ đoàn luôn chú trọng xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tính tự giác chấp hành điều lệnh, điều lệ chế độ quy định cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt là trong công tác đảng, công tác chính trị và nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đại đa số cán bộ, chiến sĩ đơn vị có bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng kiên định vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh xây dựng và phát huy tinh thần đoàn kết không chỉ trong tình đồng chí, đồng đội mà còn là mối quan hệ gắn bó tình quân dân như cá với nước. Đơn vị còn thường xuyên quan tâm giáo dục đến cán bộ, chiến sĩ đặc biệt là thế hệ trẻ về truyền thống của “Đoàn tàu không số”. Qua đó vun đắp thêm tinh thần yêu nước ý thức cách mạng và niềm tự hào trong từng cán bộ, chiến sĩ hôm nay và mai sau.

Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, nhiều phương tiện và hàng chục cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 962 tình nguyện tăng cường lên biên giới làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn xuất nhập cảnh biên trái phép trên các tuyến đường sông, rạch; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền công tác phòng chống dịch trên tuyến biên giới An Giang, Đồng Tháp. Phối hợp với các lực lượng, tổ chức tuần tra, kiểm soát 76 lượt; kịp thời thông báo cho các lực lượng để ngăn chặn đẩy lùi ngay từ tuyến biên giới được 23 nhà nổi, bè nổi nuôi cá và 111 phương tiện xuồng, ghe, võ lãi lớn, nhỏ các loại. Lữ đoàn đã kịp thời hỗ trợ gia đình quân nhân có hoàn cánh khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19; tham gia gian hàng “0 đồng” cùng phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên và Phụ nữ tỉnh An Giang để hỗ trợ những người dân gặp khó khăn, vượt qua mùa dịch COVID-19 và các lực lượng trên tuyến đầu chống dịch trên địa bàn Long Xuyên và Chợ Mới.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 962 luôn ra sức phấn đấu, tiếp tục phát huy truyền thống “Đoàn tàu không số”, đơn vị anh hùng LLVTND, lập nên nhiều thành tích xuất sắc. Được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất (2012), Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba (2015), Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất (2017). Từ năm 2010 đến 2016 Đảng bộ luôn đạt TSVM tiêu biểu, Lữ đoàn liên tục được Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu tặng Cờ thi đua xuất sắc, Cờ đơn vị Huấn luyện giỏi, danh hiệu đơn vị Quyết thắng, bằng khen, giấy khen và nhiều hình thức khen thưởng khác của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương. Đặc biệt năm 2020, Lữ đoàn được Nhà nước tuyên dương “Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” trong thời kỳ đổi mới, giai đoạn 2009 - 2019.


Chiến sĩ mới tuyên thệ dưới cờ quyết thắng

Phát huy truyền thống “Đoàn tàu không số”, đơn vị hai lần anh hùng LLVTND. Thế hệ cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 962 không quên nhiệm vụ luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; ý thức và trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng; ra sức thi đua xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ tô đậm thành tích vẻ vang, tự hào của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn qua bao thế hệ xứng đáng với 16 chữ vàng “Đoàn kết, bí mật - Dũng cảm mở đường - Kiên cường giữ bến - Lập công xuất sắc”.
                                                                                
Đại tá Lê Thanh Nhã
Chính ủy Lữ đoàn 962
Tiến tới đại hội đảng
Dua-nghi-quyet-vao-cuoc-song
Giải phóng miền Nam
Số lần xem các bài viết
21786491