Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Bác Tôn Đức Thắng - công nhân ưu tú, người cộng sản mẫu mực, nhà yêu nước vĩ đại

(TGAG)- Bác Tôn Đức Thắng là hình mẫu về lối sống, lẽ sống, nhân cách, đạo đức cách mạng cần kiệm, liêm chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Cuộc đời sự nghiệp của Bác Tôn mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp các thế hệ người Việt Nam nói chung, cho các thế hệ giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam nói riêng noi theo. Bác Tôn đã có nhiều cống hiến to lớn, quan trọng đối với GCCN, tổ chức Công đoàn Việt Nam cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thể hiện trên một số lĩnh vực sau:

Khi thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1924), GCCN nước ta đang trong quá trình hình thành, cũng là lúc Bác Tôn học xong tiểu học. Năm 1906, Bác Tôn đến Sài Gòn học nghề, chuẩn bị hành trang cho mình bước vào cuộc đời người thợ.

Năm 1910, Bác Tôn vào làm thợ ở xưởng Kroff thuộc Sở kiến trúc cầu đường và nhà ở Sài Gòn. Bước vào cuộc đời người thợ, Bác Tôn không chỉ thuộc thế hệ những công nhân đầu tiên của GCCN nước ta, mà còn là một trong những người thợ thực sự giỏi về chuyên môn, nghề nghiệp lúc bấy giờ. Do có tay nghề giỏi, nên khi làm thợ, Bác Tôn thường được cử đi sửa chữa máy móc ở nhiều nơi, có khi vào xưởng Ba Son, khi thì vào trường Bách Nghệ, nhờ vậy Bác Tôn có điều kiện tiếp xúc, trao đổi với nhiều đối tượng công nhân.

Ngay từ khi đang học trong trường nghề, năm 1909, Bác Tôn đã vận động anh em học sinh lính thủy bỏ học, đấu tranh chống bắt phải làm việc nhiều, ăn khổ, chống chế độ bắt lính. Năm 1912, Bác Tôn tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son và vận động học sinh trường Bách Nghệ bãi khóa... Tháng 4 năm 1919, Bác Tôn dũng cảm cùng anh em thủy thủ trên chiến hạm của Pháp đứng lên phản chiến. Chính Bác Tôn là người kéo lá cờ đỏ treo trên chiến hạm France để chào mừng nước Nga Xô Viết.

Tháng 8/1923, Bác đã lãnh đạo cuộc bãi công của gần một nghìn công nhân Ba Son ngăn cản chuyến đi của chiến hạm Michelet sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Tháng 12/1928, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn. Sáng ngày 26/7/1929 chúng tuyên án Bác Tôn bị tù 20 năm khổ sai. Đêm 2/7/1930, Bác Tôn bị đày đi Côn Đảo trên chuyến tàu Hadmand Rouseaus, 15 năm ở nhà tù Côn Đảo không hề làm giảm ý chí kiên cường đấu tranh của người chiến sĩ cách mạng, người thợ Tôn Đức Thắng. Ngay sau khi đến nhà tù Côn Đảo, Bác Tôn đã cùng với những người trung kiên sáng lập ra “Hội những người tù đỏ” làm hạt nhân lãnh đạo khối tù. Cách mạng Tháng 8 thành công, ngay sau khi thoát khỏi nhà tù, gông xiềng, vừa đặt chân đến đất liền, Bác Tôn lại tham gia ngay vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Bác Tôn dù bất kỳ làm gì, ở đâu, trong hoàn cảnh nào thì chất người công nhân, người chiến sĩ cách mạng vẫn luôn hòa quyện chặt chẽ, luôn một lòng, một dạ trung thành với mục tiêu, lý tưởng của GCCN, suốt đời đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho quyền lợi của nhân dân. Bác Tôn thực sự là thế hệ công nhân tiêu biểu của GCCN Việt Nam.

Khi bị bắt giam, đày đọa hơn 15 năm trời trong ngục tù Côn Đảo, với những cực hình hết sức dã man, nhốt vào hầm xay lúa, nhốt vào hầm tối, tay chân bị xiềng xích, kềm kẹp, bị đánh đập tàn bạo, bị bỏ đói, khát, Bác Tôn vẫn giữ vững tinh thần cách mạng kiên cường và sự trung thành vô hạn đối với Đảng, luôn tin tưởng ở tương lai tươi sáng của dân tộc, luôn vui vẻ, không bao giờ sao nhãng công tác cách mạng, chịu khó nghiên cứu, học tập lý luận. Bản lĩnh và hành động của Bác Tôn làm kẻ thù phải kính nể, đồng chí, bạn bè càng quý trọng, kính phục. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng dù ở đâu, với những cương vị nào, Bác Tôn vẫn giữ vững những đức tính vốn có của mình, ăn những món ăn giản dị, mặc như những người bình thường, ghét sự xa hoa, lãng phí, ham lao động trí óc và chân tay.

Bác Tôn luôn chăm lo, giữ gìn, củng cố tình đoàn kết đồng chí, đồng bào, đoàn kết với các nước anh em và bè bạn quốc tế vì độc lập thống nhất tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc. Trong công tác cũng như trong sinh hoạt, Bác Tôn luôn nêu tấm gương mẫu mực, sáng ngời về tính nguyên tắc, tính tổ chức, dù làm việc lớn, việc nhỏ đều phấn đấu không mệt mỏi, đều tuân thủ quyết định của tổ chức.

Cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác Tôn là tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tụy, về tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn, giản dị. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết “... Di sản quý báu nhất mà đồng chí Tôn Đức Thắng để lại cho nhân dân là chất người Tôn Đức Thắng..., tinh túy của chất người ấy là lòng thương nước, yêu dân, niềm ưu ái với đồng bào, đồng chí, niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cách mạng, mặc dù khó khăn, gian khổ, nhưng tinh thần một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đức chí công vô tư, quên mình, sự khiêm tốn giản dị, hồn nhiên, trong sáng”.

Phẩm chất đạo đức, ý chí phấn đấu bền bỉ, kiên cường của Bác Tôn tượng trưng cho tinh hoa phẩm chất cách mạng của GCCN và nhân dân Việt Nam. Đạo đức của Bác Tôn là kiểu mẫu phong phú, hoàn chỉnh về lối sống, nhân cách của một người cách mạng suốt đời hoạt động vì nước, vì dân, về tấm lòng trung thành, dũng cảm, thể hiện ý chí sức mạnh phi thường không gì lay chuyển nổi. Cống hiến vô giá của Bác Tôn đã nêu gương cho nhiều thế hệ những người cách mạng và những lớp thanh niên nước ta một tấm gương đạo đức trong suốt.

PHAN THỊ DIỄM
Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh

70 năm thi đua ái quốc
Thống Kê

Đang có 203 khách online

Số lượt xem : 5675913