Chủ tịch Tôn Đức Thắng - công nhân ưu tú, người cộng sản mẫu mực, nhà yêu nước vĩ đại

(TGAG)- Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 tại Cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang), là một trong những chiến sĩ lớp đầu của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta, người bạn chiến đấu thân thiết lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện thân tiêu biểu cho tinh thần bất khuất, hiến dâng cả đời mình cho độc lập tự do của dân tộc và lý tưởng cộng sản.

Truyền thống gia đình, quê hương và thời cuộc tác động mạnh và ảnh hưởng nhiều đến chí hướng, tình cảm và nhân cách của Bác Tôn. Bác không chọn nghề nào khác mà chọn làm thợ và là thợ cơ khí, điện. Nghề thợ hấp dẫn Bác hơn tất cả vì tự tay làm ra những thứ rất mới, những vật dụng mà quê hương chưa bao giờ có. Bác đã xác định có nghề đi đâu cũng sống được!

Năm 1906, lên Sài Gòn bắt đầu cuộc đời làm thợ, Bác Tôn tích cực tham gia phong trào yêu nước của thợ thuyền và trở thành hạt nhân lãnh đạo các cuộc đấu tranh bãi khóa của học sinh trường Bách Nghệ, tổ chức các cuộc bãi công của công nhân Ba Son (năm 1912). Năm 1915, với trình độ tay nghề giỏi, Bác quyết định vào học trường thợ máy Châu Á ở Sài Gòn. Năm 1916, Bác bị động viên trở thành lính thợ làm việc trên chiến hạm France.

Ngày 16-4-1919, mặc dù chiến tranh thế giới đã kết thúc, Chính phủ Pháp vẫn điều 5 chiến hạm vào Biển Đen tiến công Xêvátxtôpôn hòng tiêu diệt nước Nga, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Bác Tôn cùng anh em binh lính, thủy thủ Pháp quyết định phản chiến.

8 giờ ngày 20-4-1919, cuộc phản chiến nổ ra trên chiến hạm France và Jean Bart. Bác Tôn đã kéo cờ đỏ lên đỉnh cột cờ chiến hạm France để ủng hộ nước Nga Xôviết, thể hiện tinh thần quốc tế vô sản, là một trong những người Việt Nam đầu tiên đấu tranh bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Mười Nga, xây đắp tình hữu nghị Việt - Xô, đồng thời đoàn kết giai cấp quốc tế chống lại kẻ thù của dân tộc mình.

Sau cuộc binh biến ở Biển Đen, Bác Tôn bị trục xuất khỏi nước Pháp, trở về Sài Gòn cùng anh em công nhân lập xưởng sửa chữa xe hơi ở Phú Nhuận, làm điểm tập hợp, tổ chức liên lạc với công nhân các nơi, đặc biệt là với trường Bách Nghệ và xưởng Ba Son.

Bác Tôn đã tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn - Chợ Lớn và được cử làm Hội trưởng. Công hội bí mật là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam (tiền thân của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam). Đến đầu năm 1925, Công hội có trên 300 hội viên với các cơ sở mạnh ở Ba Son, Nhà đèn Sài Gòn, Nhà đèn Chợ Quán v.v...

Những năm 1921-1925, Công hội do Bác Tôn lãnh đạo đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh của công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn, đặc biệt là cuộc bãi công nổi tiếng của thủy thủ và công nhân Ba Son thắng lợi, ảnh hưởng rộng lớn tới phong trào công nhân ở Việt Nam, minh chứng giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành về ý thức chính trị, về tinh thần quốc tế vô sản mà Bác Tôn là một trong những người tiêu biểu.

Đầu năm 1927, Bác Tôn gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tham gia vào quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cuối năm 1929, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám lớn - Sài Gòn, sau đó bị kết án 20 năm khổ sai và đêm ngày 2 rạng ngày 3-7-1930, bị đày ra địa ngục Côn Đảo. Gần 17 năm bị thực dân giam cầm, Bác luôn luôn nêu cao tinh thần cách mạng kiên cường, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nêu tấm gương sáng dẫn dắt nhiều đồng chí vững bước tiến lên trước những thử thách gay gắt của đấu tranh cách mạng. Bác là một trong những người thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo, là người phụ trách Hội tù (Hội cứu tế tù nhân) Côn Đảo. Những người tù ở Côn Đảo kính mến và gần gũi Bác gọi Bác bằng những tiếng thân thương “thầy Thắng”, “anh Hai Thắng”.

Sau Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), Bác Tôn trở về từ Côn Đảo, cùng đồng bào Nam bộ và Nhân dân cả nước chống thực dân Pháp trở lại xâm lược. Bác là Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là Ủy viên Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ.

Tháng 3-1946, Bác Hồ và Chính phủ đón Bác Tôn ra Hà Nội. Từ đó, Bác Tôn đảm nhận nhiều trọng trách và làm việc bên cạnh Bác Hồ.

Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng vào tháng 01-1948 bầu bổ sung Bác Tôn vào Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 2-1951, Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng bầu Bác Tôn vào Ban chấp hành Trung ương Đảng. Hơn hai mươi năm là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và người lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo Mặt trận Dân tộc thống nhất, Bác đã góp phần cống hiến xứng đáng vào cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc vì độc lập, tự do của đất nước, vì hạnh phúc của Nhân dân.

Ngày 15-7-1960, Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II bầu Bác Tôn làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi Bác Hồ qua đời, Bác Tôn được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Kỳ họp đặc biệt của Quốc hội khóa III (tháng 9-1969).

Với những cống hiến to lớn cho Tổ quốc, Nhân dân, phong trào công nhân và cách mạng thế giới, Bác Tôn là người đầu tiên được Quốc hội và Bác Hồ tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Ủy ban Giải thưởng hòa bình quốc tế Lênin tặng Giải thưởng Lênin Vì hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc; Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Lênin.

Hiến dâng cả đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc, cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, Bác Tôn là tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tụy với sự nghiệp của Đảng và của Nhân dân, về tinh thần anh dũng, bất khuất trước kẻ thù, về đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị, nhân ái, thủy chung, thương yêu đồng chí, đồng bào.

Chúng ta nhớ mãi Bác Tôn, một người công nhân ưu tú, một người cộng sản mẫu mực, một nhà yêu nước vĩ đại, người bạn chí thiết của Bác Hồ./.

THÀNH NHÂN
Thống Kê

Đang có 55 khách online