Công tác tuyên truyền

Tấm lòng nhân dân Nam Bộ với Bác Hồ và Tuyên ngôn độc lập

(TGAG)- Cư dân Việt vào Nam Bộ chính thức từ lúc Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn vào đất Sài Côn kinh lý, lập ra hai huyện Tân Bình và Phước Long và một đơn vị hành chánh lớn là phủ Gia Định năm 1698. Lúc đó đã có bốn vạn hộ cư dân Việt cộng cư với vài vạn hộ dân Khmer, khoảng một vạn hộ người Hoa vừa mới đến. Cuộc phát triển đại quy mô ở Nam Bộ diễn ra vào lúc đất nước chia hai - Đàng Ngoài và Đàng Trong - trải qua nhiều năm tháng đánh nhau, một hình thức “nồi da xáo thịt” mà những người Việt có đạo lý và lương tri rất đau lòng, không thể chấp nhận. Vào Nam Bộ khai phá và sinh sống, lưu dân canh cánh bên lòng sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và đó là ước mong của thế hệ này sang thế hệ khác.

Vào Nam Bộ ngót 250 năm (kể từ năm 1698), người dân Nam Bộ chỉ hưởng thống nhất, tự do, độc lập non 60 năm, từ năm 1802 (lúc vua Gia Long lên ngôi) đến năm 1861 (khi thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ), lại tiếp tục chịu sự đày đọa, bóc lột, chia rẽ của thực dân Pháp xâm lược. Hơn ai hết, nhân dân Sài Gòn - Gia Định, nhân dân Nam Bộ lúc nào cũng khao khát độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Do đó, mặc dù trong gần 100 năm đô hộ, thực dân Pháp tìm mọi cách cắt rời Nam Bộ ra khỏi Tổ quốc Việt Nam từ tên gọi (chúng gọi Nam Kỳ là Cochinchine, Trung Kỳ là Annam, Bắc Kỳ là Tonkin), chế độ cai trị (Nam Kỳ là đất thuộc địa, trực trị của Pháp; Trung Kỳ và Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, còn có các quan chức Annam), chế độ kinh tế (nền kinh tế hàng hóa ở Nam Kỳ phát triển khá sớm), chế độ giáo dục (giáo dục khoa cử kiểu Nho học bãi bỏ ở Nam Kỳ từ 1865, các trường tư của Nhà thờ Thiên Chúa mở ra từ 1868 trong khi Trung Kỳ và Bắc Kỳ đến năm 1919 mới bãi bỏ các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình)... nhưng tất cả âm mưu đó đều thất bại.

Tháng 6/1919, đại diện cho nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp, với tên mới là Nguyễn Ái Quốc, Người đã đến lâu đài Versaille trao bản “Revendication du Peuple Anmite” (Yêu sách của nhân dân An Nam) cho Văn phòng Hội nghị, sau đó lần lượt gởi bản Yêu sách cho các đoàn đại biểu các nước Đồng minh dự Hội nghị, trong đó có đoàn đại biểu chính phủ Mỹ. Đồng thời cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc gởi đăng báo Journal du Peuple và báo L’Humanité, cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp. Sau đó Nguyễn Ái Quốc còn bỏ tiền ra in bản Yêu sách dưới dạng truyền đơn với ba thứ chữ: chữ Pháp, chữ Quốc ngữ (với nhan đề là Việt Nam yêu cầu ca, theo thể văn vần), chữ Hán (nhan đề là Việt Nam nhân dân thỉnh nguyện thư) và gởi các truyền đơn bằng chữ Quốc ngữ về trong nước qua các thủy thủ tàu biển. Các truyền đơn này về tới Sài Gòn nhiều nhất. Nhân dân Sài Gòn, nhân dân Nam Bộ đã biết tiếng Nguyễn Ái Quốc, rất khâm phục và ngưỡng mộ hành động dũng cảm này của Người ở giữa thủ đô Paris.

Năm 1922, Nguyễn An Ninh về nước, rồi năm 1925 Phan Chu Trinh cũng về nước ở tại Nam Bộ. Đây là 2 người gần gũi, thân cận với Nguyễn Ái Quốc lúc ở Paris. Quá trình hoạt động, diễn thuyết chắc chắn hai ông sẽ nhắc nhở, kể chuyện về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Pháp cho nhiều người nghe. Chưa kể những hoạt động của cụ Nguyễn Sinh Sắc lúc này đang ở Nam Bộ. Từ năm 1919, cụ Sắc chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, nhưng thỉnh thoảng cũng lên Sài Gòn để nghe ngóng tin con và có những hoạt động ủng hộ đứa con út yêu quý của mình.

Khi Nguyễn Ái Quốc về nước, thành lập Mặt trận Việt Minh tại Hội nghị Trung ương 8 ở Cao Bằng (tháng 5/1941), xưng là Hồ Chí Minh, rồi ra lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh, nhân dân Nam Bộ rất bỡ ngỡ. Tuy nhiên, khi biết chính xác Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, người thanh niên dũng cảm năm nào đã gởi bản “Việt Nam yêu cầu ca” cho Hội Quốc Liên tại Versaille, nhân dân Nam Bộ hết sức phấn khởi, tin tưởng.

Tình thế ở Nam Bộ trong thời gian trước Cách mạng Tháng Tám rất khác so với cả nước. Sau khởi nghĩa Nam Kỳ (tháng 11/1940) thất bại, Pháp đã tăng cường đàn áp và khủng bố trắng. Lực lượng cách mạng gần như tan rã, chưa kịp phục hồi, lại ở xa Trung ương. Do đó, những chủ trương từ Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), Xứ ủy Nam Bộ không nắm được, lại còn bị chia rẽ trong nội bộ Đảng (có 2 Xứ ủy, Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải Phóng). Tuy nhiên với tinh thần đảng viên cộng sản và với lòng kính yêu và niềm tin mãnh liệt vào lãnh tụ, sau khi nghe tin Cách mạng Tháng Tám đã thành công ở Bắc Bộ và Trung Bộ, cả 2 Xứ ủy đều đã bỏ qua hiềm khích, đố kỵ, mất đoàn kết, đồng lòng và nhanh chóng lãnh đạo khởi nghĩa ở các tỉnh thuộc Nam Bộ, đến ngày 28/8/1945 Tổng khởi nghĩa Tháng Tám cũng hoàn thành ở toàn Nam Bộ.

Cuối tháng 8, hai cán bộ cao cấp của Đảng là Hoàng Quốc Việt và Cao Hồng Lãnh được Trung ương cử vào giúp Ban lãnh đạo ở Nam bộ đã vào tới Sài Gòn và hai đại biểu của Xứ ủy dự Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội quốc dân ở Tân Trào là Ung Văn Khiêm và Hà Huy Giáp về lại Sài Gòn. Mọi việc đã rõ ràng. Hồ Chí Minh đích thị là Nguyễn Ái Quốc. Chiều ngày 2/9, lúc 2 giờ, cùng một lúc với các tỉnh, thành trên cả nước, Xứ ủy và Ủy ban hành chánh lâm thời Nam Bộ tổ chức Lễ Độc lập tại Sài Gòn. Tuy nhiên mới 12 giờ trưa, hầu hết dân Sài Gòn đều đổ ra đường, tập trung về Nhà thờ Đức Bà để dự lễ và nghe Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập được tiếp sóng trực tiếp. Nhưng việc tiếp sóng không thành công, Bí thư Xứ ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chánh lâm thời Trần Văn Giàu lên lễ đài ứng khẩu phát biểu với nhân dân NamBộ. Sau đó là cuộc tuần hành với khẩu hiệu chủ yếu là “Độc lập hay là chết” viết bằng nhiều thứ chữ (Anh, Pháp, Nga, Tàu, Việt).

Với lòng kính yêu và niềm tin mãnh liệt vào lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân Nam Bộ đã vượt qua mọi âm mưu chia rẽ, chia cắt Nam Bộ ra khỏi Tổ quốc, một lòng đoàn kết, tin tưởng vào Đảng, vào lãnh tụ, đi suốt cuộc trường chinh chiến đấu, kéo dài 30 năm, đi trước về sau, để có được thắng lợi như ngày hôm nay.

ĐẶNG HOÀI DŨNG
Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh
Cách mạng tháng 10
Thống Kê

Đang có 54 khách online