Ý nghĩa lịch sử của Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867-1873) trên địa bàn tỉnh An Giang

(TGAG)- Hướng tới kỷ niệm 143 năm Ngày hy sinh của Quản cơ Trần Văn Thành (ngày 20-21 tháng 2 âm lịch). Tuyên giáo An Giang xin giới thiệu bài viết  Ý nghĩa lịch sử của Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867-1873) trên địa bàn tỉnh An Giang.
                    
Từ ngàn xưa dân tộc Việt Nam ta luôn luôn ghi nhớ và tôn kính đối với các vị anh hùng có công với nước. Lòng tôn kính đó thường được biểu hiện qua truyền thuyết, thần thoại, ca dao, dân ca, nhất là lập đền miếu tưởng niệm.

Đối với tỉnh An Giang chúng ta ai cũng biết Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700) bậc khai quốc công thần của chúa Nguyễn có công khai phá Nam Bộ, Nghi Biểu Hầu Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) lập đạo Châu Đốc và đạo Tân Châu năm 1757, Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại (1761-1829) danh thần nhà Nguyễn, chỉ huy đào kinh Thoại Hà (1818), kinh Vĩnh Tế (1819-1824) khẩn hoang lập nhiều làng xã trên địa bàn tỉnh An Giang. Ông được triều đình ban thưởng rất hậu sủng, lấy tên ông và tên vợ ông mà đặt tên núi và tên sông, được sắc phong thần thờ nhiều nơi. Ngoài ra, còn có một anh hùng dân tộc có thành tích trong buổi đầu chống thực dân Pháp xâm lược, được nhân dân lập đền thờ ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh An Giang đó là Chánh Quản cơ Trần Văn Thành.

Ông Trần Văn Thành quê ở làng Bình Thành Đông, tổng Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Trần Văn Thành tham gia quân đội năm 1840 tại tỉnh An Giang. Nhờ có tài văn võ, ông được tuyển dụng làm chức suất đội chỉ huy 50 binh sĩ. Từ đó, ông theo các tướng lĩnh nhà Nguyễn như: Nguyễn Tiến Lâm, Trương Minh Giảng, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, đánh bại quân xâm lược Xiêm La và Chân Lạp. Do lập được nhiều công trận ông được thăng chức từ Suất đội lên Chánh quản cơ năm 1845 chỉ huy 500 binh lính đóng tại thành An Giang.

Năm Kỷ Dậu (1849), Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên sáng lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Trần Văn Thành được Phật Thầy Tây An dạy con đường học Phật tu nhân, từ đó ông theo Phật Thầy mở mang mối đạo, khẩn hoang lập làng, khuếch trương nông nghiệp như cấm cây thẻ quanh vùng Thất Sơn (hiện nay còn ở rạch Trà Kiết (Cần Đăng), Ngã Bát (Cái Dầu), Bài Bài (Vĩnh Tế), Vĩnh Điều (huyện Giang Thành, Kiên Giang) - gọi là Dinh Ông Thẻ), mở mang trại ruộng Thới Sơn, Láng Linh, đào kinh Láng Linh - Cái Dầu (nhân dân còn gọi là kinh Ông Bà / mương Bờ Dâu).

Ngày 22/6/1867, quân đội Pháp chiếm thành Châu Đốc (tỉnh An Giang). Không khuất phục giặc, Trần Văn Thành kéo lực lượng dân binh về Bảy Thưa xây dựng căn cứ, đồng thời phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực kháng Pháp trong vùng Tứ giác Long Xuyên.

Láng Linh (xưa thuộc huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang, nay là xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, An Giang) là một cánh đồng bao la bát ngát, không một kinh rạch thông vào, đế sậy mọc tràn lan dày đặc, nhiều chỗ sình lầy nước đọng quanh năm, lại có lắm thú to rắn độc. Vùng này ít có người lui tới, ngoại trừ những tay thợ săn và những người theo giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương đến chiêm bái trại ruộng “Bửu Hương Các” do ông Trần Văn Thành trông coi. Địa thế Láng Linh rất hiểm trở, vùng này quả là một căn cứ kháng chiến vững chắc. Tại đây ông Trần Văn Thành ra lệnh tuyển mộ binh lính, xây dựng đồn chỉ huy Hưng Trung và có nhiều đồn trại xung quanh, tập trung các nhu cầu cần thiết cho việc kháng chiến mà ông đã chuẩn bị từ trước.

Sau khi Nguyễn Trung Trực bị Pháp xử tử (1868) tại Rạch Giá, Trần Văn Thành quy tụ nghĩa quân khắp vùng miền Tây về Láng Linh- Bảy Thưa xây dựng đồn lũy, rèn đao kiếm, súng ống, lương thực, đánh phá đồn bót giặc... Quân Pháp nhiều lần đánh vào Bảy Thưa nhưng không đạt kết quả. Đầu năm 1873, thực dân Pháp cho người mang thư đến mua chuộc ông quy thuận. Ông cương quyết từ chối hợp tác với kẻ thù, tinh thần khảng khái đó được truyền tụng trong nhân dân:
 
“Thà thua xuống láng xuống bưng,
Nếu ra đầu giặc lỗi chưng quân thần”

Biết không mua chuộc được Trần Văn Thành, thực dân Pháp huy động một lực lượng lính mã tà ở Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ tấn công nhiều hướng vào căn cứ Bảy Thưa từ ngày 19-20 tháng 3 năm 1873 (nhằm ngày 20 và 21 tháng 2 âl). Trần Văn Thành trực tiếp chỉ huy nghĩa quân chống giặc và hy sinh anh dũng trước mũi súng của kẻ thù ngày 21 tháng 2 Quý Dậu (1873). Con trai thứ của ông là Trần Văn Chái (1855-1873) bị giặc bắt, sau đó tuẫn tiết trong khám Châu Đốc. 

Chiếm xong đại đồn Hưng Trung, quân Pháp thu nhập các súng hạn nhẹ, còn súng đồng và những lò đúc đạn dược, chúng phá hủy rồi đẩy xuống đìa cho mau mục sét. Các đồn trại và lương thực chúng nổi lửa đốt hết.

Nhân kỷ niệm 143 năm ngày mất của Quản cơ Trần Văn Thành (1873-2016), chúng ta thử có một vài ý kiến nhận xét đánh giá ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa trong lịch sử chống xâm lược của nhân dân An Giang vào nửa cuối thế kỷ XIX:

1- Khởi nghĩa  Bảy Thưa là một cuộc chiến tranh nhân dân

Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa chống thực dân Pháp xâm lược do Chánh Quản cơ Trần Văn Thành lãnh đạo, được tổ chức thành một phong trào rộng lớn lúc bấy giờ. Nó thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, từ nông thôn đến miền núi như: sĩ phu, võ tướng trí thức, thanh niên, phụ nữ. Về tôn giáo thì đa số người theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đều hưởng ứng. Về dân tộc có hoàng thân Pucampo… Do động viên được nhân dân tham gia và chính họ là những người nuôi dưỡng phong trào kháng chiến được kéo dài.

Cuộc chiến tranh ở đây được thể hiện một cách rõ nét và độc đáo như: quần chúng tham gia nghĩa quân trực tiếp chiến đấu, người không tham gia được thời vận động cổ vũ, tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men… Ngoài ra quần chúng quanh vùng hết lòng che chở và hướng về nghĩa quân. Bởi vì ở họ đều có tấm lòng yêu nước nồng nàn, một ý chí căm thù giặc Pháp xâm lược.

Do điều kiện khách quan lúc bấy giờ, cuộc chiến tranh nhân dân ở Láng Linh - Bảy Thưa chưa được xây dựng và phát triển đúng mức. Nó còn nhiều giới hạn, nhất là ảnh hưởng của phong trào không sâu rộng mà chỉ bó hẹp trong phạm vi tỉnh An Giang. Hơn nữa, cuộc khởi nghĩa này chưa lập được một chiến công nào vang dội như đốt tàu Pháp trên sông Nhật Tảo hay chiếm thành Kiên Giang của Nguyễn Trung Trực. Do đó, nó chưa thể vận dụng và phát huy toàn diện khả năng chiến đấu của nhân dân quanh vùng, nên sớm thất bại trước bạo lực quỷ quyệt của thực dân Pháp. Nhưng dầu sao Trần Văn Thành và những nông dân yêu nước ở đây đã nêu tấm gương anh hùng bất khuất của nhân dân An Giang trong lịch sử truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước.

2- Khởi nghĩa Bảy Thưa là móc son lịch sử chống thực dân pháp của nhân dân An Giang

Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa nổ ra sáu năm (1867 - 1873), đó là một cuộc chiến đấu bất khuất, một nét son chói lọi trong lịch sử chống xâm lăng của nhân dân An Giang. Cuộc khởi nghĩa nổ ra trong điều kiện sáu tỉnh Nam Kỳ đã rơi vào tay Pháp, các trung tâm kháng chiến khắp nơi đã im hẳn, nó chứng tỏ tinh thần dân tộc của nhân dân An Giang kiên trì, bền bỉ và dũng cảm.

Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa nổ ra làm góp phần phong phú lịch sử chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam. Từ trong ngọn lửa của cuộc khởi nghĩa oanh liệt ấy và các nơi khác, tỏa ra chân lý lịch sử: một dân tộc dù nhỏ nhưng tự mình dựng lên và làm chủ đất nước và số phận của mình, là bất khuất, không một sức mạnh nào đè bẹp nổi.

Cuộc khởi nghĩa của Trần Văn Thành là kết tinh của một quá trình đấu tranh, khi âm thầm, lúc công khai của nhân dân An Giang lúc bấy giờ. Nó là sự thể hiện nét đẹp tinh thần gái trai, già trẻ, các tầng lớp, các thành phần giai cấp, tôn giáo, dân tộc, đoàn kết một lòng theo dưới lá cờ khởi nghĩa của Trần văn Thành, đánh giặc cướp nước.

Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng nó là một niềm tự hào của nhân dân An Giang trong thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược./.

Trần Văn Đông
Hội Khoa học Lịch sử An Giang
Thống Kê

Đang có 178 khách online