Một lĩnh vực khoa học giúp dân tộc tự nhận thức

Ngày 30-11, tại Đại hội đại biểu lần thứ VII Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: “Làm sao để chúng ta có căn cứ khoa học cho việc phải biến tất cả những gì mình có, trong đó con người là nhân tố quan trọng nhất, thành lợi thế cạnh tranh quốc tế, sử học phải nâng cao năng lực và trình độ hơn nữa để xứng đáng là một lĩnh vực khoa học giúp dân tộc tự nhận thức”.

Con người bắt đầu tự nhận thức về mình với các câu hỏi: Ta là ai? Ta từ đâu đến? Ta sẽ đi về đâu? Ký ức lịch sử trở thành một bệ đỡ quan trọng cho sự phát triển hiện tại và tương lai. Mạch nguồn lịch sử là chất liệu căn bản để làm nên tinh thần dân tộc, làm nên hồn văn hóa dân tộc. Do vậy, dù lịch sử “là cái đã qua” nhưng không chỉ “là cái đã qua”, lịch sử còn là “thầy dạy” của cuộc sống, dạy cho chúng ta hiểu quá khứ, nhận thức đúng hiện tại, giúp cho việc dự báo tương lai - theo logic phát triển của lịch sử. Lịch sử lưu giữ kinh nghiệm của loài người, nếu lãng quên lịch sử con người sẽ như không có trí nhớ. Lịch sử giúp chúng ta hiểu về quá khứ, về sự hình thành, phát triển của dân tộc, cho ta biết những thăng trầm với niềm tự hào và nỗi tủi hổ, với niềm vui và sự bất hạnh, với cả thắng lợi và sự thất bại,… mà dân tộc đã trải qua. Và với dân tộc Việt Nam, lịch sử là nền tảng vững chắc làm nên truyền thống yêu nước, là điểm tựa cho lòng tin vào sức mạnh dân tộc. Lịch sử giúp chúng ta hiểu nỗi đau của hơn một nghìn năm Bắc thuộc, cho ta thấy lòng tự tôn dân tộc khi Khúc Thừa Dụ khôi phục nền tự chủ năm 905. Lịch sử cho ta thấy sức mạnh của hào khí Đông A… Lịch sử thúc đẩy chúng ta suy nghĩ, khám phá. Và đến hôm nay chúng ta vẫn ghi nhớ: Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc đã được viết nên với bao hy sinh, nỗ lực của tiền nhân. Thiếu hiểu biết lịch sử dân tộc, thiếu hiểu biết về truyền thống văn hóa của chính mình, thiếu hiểu biết về các dân tộc anh em, về các nền văn minh,… sẽ không thể khẳng định được giá trị, vị trí của dân tộc trong thế giới rộng lớn đang trong thế toàn cầu hóa, và dễ đẩy tới tình trạng mất bản sắc văn hóa trên chính Tổ quốc mình.

Con người Việt Nam cần được giáo dục toàn diện để tạo dựng nên cơ sở phát triển toàn diện. Một trong những điều không thể thiếu trong hành trang tri thức của mỗi người là ký ức hào hùng của dân tộc, là truyền thống văn hóa đậm bản sắc, là tri thức bản địa được tiếp nối, truyền thụ qua nhiều thế hệ. Đó là phần quan trọng trong tài sản tinh thần của mỗi người trong suốt đường đời của mình, để có thể tự hào “Tôi là người Việt Nam”. Cách đây hơn 70 năm, khi dân tộc đang đấu tranh giành lại nền độc lập, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam…”. Đây là một yêu cầu quan trọng đã được Người đặt ra khi kêu gọi tinh thần yêu nước, kêu gọi nâng cao nhận thức của toàn dân Việt Nam vì sự nghiệp cách mạng. Chỉ trên cơ sở hiểu biết, trân trọng truyền thống lịch sử hào hùng của cha ông, lòng yêu nước của toàn dân mới có cơ sở vững chắc và được bồi đắp thường xuyên. Như Người viết rõ thêm: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời… Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” (Hồ Chí Minh - Toàn tập - NXB Chính trị Quốc gia, H.2011, tập 3, tr.256). Hiểu biết về lịch sử nước nhà làm cho mỗi người thấy rõ hơn quá trình dựng nước, giữ nước của cha ông, rõ hơn những giá trị bền vững tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm, là tình đoàn kết, yêu thương gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc. Đó là lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình và đạo lý, là cần cù, sáng tạo trong lao động, giản dị trong lối sống… Yêu cội nguồn lịch sử dân tộc là yếu tố quan trọng, và là biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước. Các giá trị lịch sử - văn hóa đó chính là “hồn nước”, chứa đựng sức mạnh tinh thần dân tộc, phản ánh khả năng đề kháng của văn hóa trước các dị bản, ngoại lai. Yêu nước, trước hết phải biết yêu truyền thống của đất nước được xây đắp bởi mồ hôi và máu của nhiều thế hệ. Đó cũng là những tiền đề quan trọng để biến các phẩm chất tiềm ẩn ở mỗi người Việt Nam thành những lợi thế có thể phát huy trong tiến trình hội nhập, chấp nhận cạnh tranh để phát triển.

Cắt ghép, xuyên tạc lịch sử vốn là thói tật của kẻ xấu. Chúng ta đang chứng kiến tình trạng ngày càng nhiều thông tin sai lệch được đưa lên một số phương tiện thông tin đại chúng - nhất là trên in-tơ-nét. Với việc cắt ghép, xuyên tạc lịch sử theo logic chủ quan được định trước nhằm phục vụ ý đồ xấu, thông tin loại này không chỉ có khả năng làm lung lạc thế hệ trẻ Việt Nam, mà còn làm “giả lịch sử”, núp bóng “cách nhìn mới” về lịch sử để tảng lờ tội ác của chủ nghĩa thực dân từng làm đổ máu, nước mắt, mồ hôi của các dân tộc thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng. Họ cố tình bỏ qua âm mưu xâm lược của các thế lực ngoại xâm và chính quyền bù nhìn được dựng lên để biện minh cho hành động tàn bạo đẩy nhân dân Việt Nam vào cảnh chết chóc, tang thương. Họ hạ thấp và bôi nhọ những giá trị cao cả của cuộc chiến đấu chính nghĩa, gian khổ và anh hùng mà cả dân tộc Việt Nam đã đi qua trong thế kỷ 20. Họ rêu rao “chỉ có nhân dân là chiến bại” (?). Phải chăng những cách trình bày và giải thích lịch sử như trên là khách quan và khoa học? Đó chỉ là những thủ đoạn mạo danh khoa học để xuyên tạc lịch sử.

Nguy cơ lịch sử bị xuyên tạc, lợi dụng là không thể xem thường. Liệu thế hệ trẻ Việt Nam mai sau có biết và tin rằng “Kẻ thù buộc ta ôm cây súng”? Liệu mai đây thế hệ trẻ có phân biệt được đúng - sai, chính nghĩa - gian tà, kẻ xâm lược và người chống xâm lược? Trước thế giới rộng lớn và quá trình hội nhập, nỗi lo lắng về sự “quên lãng” truyền thống, về sự vong bản, vọng ngoại... trở nên “nóng” hơn, bức xúc hơn. Không lo lắng sao được khi xuất hiện hiện tượng học sinh chán học môn sử, kém hiểu biết về lịch sử. Thậm chí, theo một chương trình gần đây trên VTV1, có tới 90% trong số 40 học sinh ở Hà Nội trong độ tuổi từ 9 tới 15 đã trả lời sai về liên hệ giữa Quang Trung và Nguyễn Huệ! Đó là nỗi lo lắng, sự bức xúc không chỉ cho tương lai xa, mà cho cả thực tế gần, đang diễn ra. Nếu học sinh không được dạy học lịch sử, lòng yêu nước và tự hào dân tộc sẽ thiếu đi cơ sở vững chắc, chiều sâu phải có. Sự thiếu hụt, thậm chí trống rỗng kiến thức về lịch sử sẽ khiến con người tiếp nhận mơ hồ, thậm chí mù quáng trước những quan điểm sai trái vì không thể phân tích bản chất, và lựa chọn đúng sai. Không nhớ quá khứ sẽ không có gì để giữ gìn bản sắc. Thiếu hiểu biết về lịch sử - văn hóa dân tộc có thể rất dễ dàng bị “hòa tan”, rồi “tự nguyện đồng hóa”.

Xã hội còn lo lắng hơn vì trước thực trạng như vậy, mà môn Lịch sử có khả năng sẽ mất danh xưng khi “tích hợp” với hai môn học khác để thành một môn tự chọn, không bắt buộc ở cấp trung học phổ thông. Trước nhiều luồng ý kiến khác nhau, các nhà sử học, các giáo viên dạy sử, dư luận xã hội và Quốc hội đã kịp thời lên tiếng. Ngày 27-11, Quốc hội ra Nghị quyết về hoạt động giám sát chuyên đề với 448/456 đại biểu bỏ phiếu tán thành giữ Lịch sử là môn học độc lập trong chương trình sách giáo khoa mới. Ngày 7-12, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiếp thu, và thống nhất ý kiến: Ở các lớp tiểu học và THCS, lịch sử phải được dạy một cách sinh động, kết hợp với các môn khác, ở chương trình THPT vẫn duy trì môn Lịch sử độc lập và là môn bắt buộc.

Môn Lịch sử cần phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ của nó, cùng các môn học khác hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Các tri thức lịch sử phải được trang bị một cách khoa học, toàn diện, có hệ thống. Trước hết, môn Lịch sử phải là một khoa học, được dạy học bằng các phương pháp bộ môn đặc trưng, tạo nền tảng để phát triển phẩm chất và năng lực con người Việt Nam - là công dân của quốc gia, đồng thời là công dân toàn cầu. Đó là xu thế tất yếu, nhưng đòi hỏi sự nỗ lực của các nhà sử học và giáo viên dạy sử. Nhiệm vụ nặng nề đặt ra trước họ là phải tìm mọi cách nâng cao chất lượng giáo dục môn Lịch sử, đổi mới một cách cơ bản và toàn diện, có hệ thống môn học: Xây dựng lại chương trình; biên soạn lại sách giáo khoa theo hướng tổng hợp, đa ngành và liên ngành; nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên, thay đổi cách dạy, cách học và cách thi môn Lịch sử... Tất cả nhằm phát huy cao nhất hiệu quả của môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông. Vì vậy, sứ mệnh của khoa học lịch sử, của các nhà sử học hết sức nặng nề. Ngày 30-11 vừa qua, trong bài phát biểu tại Đại hội Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nhấn mạnh: “Các nhà sử học cần không ngừng nâng cao trình độ lý luận và phương pháp luận, phát huy cao trách nhiệm và nhiệt huyết được hun đúc từ truyền thống hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc, phải là những chiến sĩ xung kích trên mặt trận này. Đảng, Nhà nước sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đồng thời cũng đặt kỳ vọng lớn lao vào các nhà sử học”.
THIÊN PHƯƠNG
(Nguồn: Báo Nhân Dân)
70 năm thi đua ái quốc
Thống Kê

Đang có 217 khách online

Số lượt xem : 5939762